Vài nét về Đền Đồng Cổ

Đền Đồng Cổ (đền thờ thần Trống Đồng) tọa lạc tại chân núi Khả Lao, làng Đan Nê (xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa). Núi Khả Lao có nhiều tên gọi khác như Kẻ Lao, Khả Nãi, Khả Phong, Đan Nê. Núi có ba ngọn núi nằm quây tròn lại với nhau như hình một bông hoa trà xòe ra ba cánh, nằm dựng đứng sát bờ sông Mã, trên bến Trường Châu xưa, trông rất đẹp nên núi còn có một tên khác là Tam Thái Sơn hay núi Tam Thai.

Theo những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn. Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9m, rộng 3m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Ngày xưa, xung quanh ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú.

Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp. Thời kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí ngay trong hang động Ích Minh, ngọn núi bên phải của đền. Khi quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng Ích Minh, chúng đã cho máy bay ném bom san phẳng cả đền Ðồng Cổ.

Những di tích nguyên gốc còn lại đến nay, ngoài hai tấm bia kể trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và Nghinh môn nằm ở phía Tây ngôi đền.

Xét về mặt niên đại, đền Đồng Cổ, Đan Nê có thể được xem là ngôi đền có tuổi lâu đời nhất Việt Nam hiện còn đến ngày nay (hơn 2.500 tuổi). Núi Đan Nê có đền thờ Thần Trống Đồng gọi là núi Đồng Cổ. Năm 986, thần Đồng Cổ lại hiển linh giúp Lê Hoàn đánh giặc Chàm ở phương Nam tại sông Ba Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.

Thắng trận, Lê Hoàn tạ ơn và ghi cho đền câu đối: “Long đình tích hiển Tam Thanh lĩnh/ Mã thủy Thanh lai Bản Nguyệt Hồ”. Sách “Việt điện U Linh”  của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) chép một đoạn về Lý Thái Tông, đại ý: Phụng mệnh vua cha là Lý Thái Tổ, Thái tử Lý Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) đem binh đi đánh Chiêm Thành (1020), đến Trường Châu (núi Khả Lao ở làng Đan Nê) đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, thấy một người thân cao 8 thước, mắt sáng, râu rậm, mặc chiến bào, tay cầm kim khí, đến trước cúi đầu tâu rằng: Tôi là thần Đồng Cổ, nghe tin Thái Tử đi đánh giặc phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập công.

Thái tử vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh giấc. Quả nhiên, theo lời Đồng Cổ Sơn Thần, vua cho quân tiến đánh giặc Chiêm Thành, giành thắng lợi. Khải hoàn, về qua Trường Châu, Thái tử bèn sai quân sĩ sửa sang miếu thần thành đền thần, rồi tạ lễ và rước bài vị về kinh đô để dựng đền thờ cầu cho quốc thái dân an. Đền Đồng Cổ chính thức có từ đây.

rải qua các triều đại, đền thờ thần Đồng Cổ Đan Nê vẫn được coi là đền chính. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta. Trong đền còn rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại.

Từ xa xưa đến nay, cứ vào rằm tháng Ba âm lịch hàng năm, nhân dân làng Đan Nê nói riêng, Yên Thọ nói chung lại náo nức tổ chức Lễ hội đền Đồng Cổ. Trước rằm một ngày, dân làng lên đền xin rước Ngài về đình Phúc giữa làng để bảy mươi dòng họ tế lễ.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.